Hấp thu :
Sau khi uống, thuốc được hấp thu nhanh và hoàn
toàn. Naproxène sodique đạt nồng độ đáng kể trong huyết tương sau 20 phút, và
đạt nồng độ tối đa sau khi uống thuốc khoảng 1-2 giờ. Thức ăn không gây ảnh
hưởng đến tiến trình hấp thu của thuốc.
Phân phối :
Lượng hoạt chất gắn với protéine huyết tương là
99%.
Chuyển hóa/Đào thải :
Thời gian bán hủy trong huyết tương khoảng 13
giờ. Khoảng 95% liều dùng được đào thải trong nước tiểu dưới dạng naproxène
không đổi, chất chuyển hóa 6-desméthylnaproxène không có hoạt tính hoặc dạng
liên hợp của naproxène.
CHỈ ĐỊNH
- Do chưa có những nghiên cứu đầy đủ về hiệu
quả và độ an toàn nên Apranax được khuyên không nên sử dụng ở trẻ em dưới 2
tuổi.
- Apranax không được sử dụng ở bệnh nhân đang
bị loét dạ dày, tá tràng tiến triển. Ở những bệnh nhân có tiền sử bệnh đường
tiêu hóa nên theo dõi chặt chẽ khi dùng Apranax.
- Những phản ứng phụ trên đường tiêu hóa có thể
xảy ra bất cứ lúc nào với bệnh nhân điều trị bằng thuốc kháng viêm không
stéroide. Nguy cơ xuất hiện những phản ứng phụ này dường như không tùy thuộc vào
thời gian điều trị.
- Cho tới nay, những công trình nghiên cứu đều
không xác định được thời điểm phát triển nguy cơ loét dạ dày tá tràng và xuất
huyết, tuy nhiên ở những bệnh nhân cao tuổi và suy yếu, khả năng dung nạp sự
loét và chảy máu ở đường tiêu hóa kém hơn những người khác. Phần lớn những phản
ứng phụ đường tiêu hóa gây chết người, có liên quan đến việc sử dụng thuốc kháng
viêm không stéroide ở những bệnh nhân cao tuổi và suy yếu này.
- Apranax làm giảm kết tập tiểu cầu và kéo dài
thời gian chảy máu. Nên lưu ý đến tác động này khi thời gian chảy máu được xác
định. Khi dùng các loại thuốc này, cần phải theo dõi các kết quả xét nghiệm về
chức năng gan.
Viên Apranax 275 mg chứa khoảng 25 mg (khoảng 1
mEq) sodium.
Viên Apranax 550 mg chứa khoảng 50 mg (khoảng 2
mEq) sodium.
Điều này cần lưu ý đối với những bệnh nhân đang
phải hạn chế sử dụng muối sodium.
Bệnh nhân suy thận :
- Vì naproxène và chất chuyển hóa của nó bị
thải trừ chủ yếu (95%) bằng đường thận qua lọc tiểu cầu thận. Do đó phải hết sức
thận trọng khi sử dụng Apranax cho những bệnh nhân suy thận, đối với những bệnh
nhân này phải kiểm tra créatinine huyết thanh và/hay độ thanh thải créatinine.
- Apranax không được dùng lâu dài ở những bệnh
nhân có độ thanh thải créatinine nhỏ hơn 20 ml/phút.
- Ở những trường hợp đặc biệt như : bệnh nhân
bị mất nhiều nước ngoại bào, xơ gan, bệnh nhân đang kiêng muối sodium, suy gan
sung huyết và bệnh nhân mắc bệnh thận trước đó, cần phải đánh giá chức năng thận
trước và trong khi điều trị bằng Apranax. Đối với bệnh nhân cao tuổi, chức năng
thận vốn đã suy yếu cũng cần phải thận trọng giống như các trường hợp trên. Đối
với tất cả bệnh nhân này, việc giảm liều Apranax điều trị hàng ngày cần được xem
xét để tránh sự tích tụ thái quá chất chuyển hóa của Apranax trong cơ thể.
Bệnh nhân suy gan :
Ở bệnh nhân bệnh gan mãn do rượu và có thể còn
ở những dạng khác của bệnh xơ gan nữa, nồng độ tổng quát của naproxène trong
huyết tương giảm, nhưng nồng độ naproxène không gắn kết lại tăng. Điều khám phá
này khiến liều lượng chính xác của naproxène chưa được biết rõ, nhưng tốt nhất
chỉ nên sử dụng Apranax ở liều thấp nhất có hiệu quả.
Bệnh nhân cao tuổi :
Những công trình nghiên cứu chứng tỏ rằng mặc
dù nồng độ tổng quát của naproxène trong huyết tương không thay đổi nhưng nồng
độ của naproxène không gắn kết trong huyết tương tăng ở bệnh nhân cao tuổi. Điều
khám phá này khiến liều lượng chính xác của naproxène chưa được biết rõ, nhưng
tốt nhất chỉ nên sử dụng Apranax ở liều thấp nhất có hiệu quả.
LÚC CÓ THAI
Do Apranax có mức độ gắn kết cao với protéine
huyết tương, nên đánh giá lại liều và theo dõi chặt chẽ các bệnh nhân được điều
trị đồng thời với hydantoine.
Mặc dầu cho đến nay chưa được quan sát thấy
trên lâm sàng có tương tác thuốc giữa Apranax và thuốc chống đông máu hoặc các
sulfonylurea, cũng cần phải thận trọng do đã xảy ra tương tác với các thuốc cùng
nhóm.
Dùng đồng thời với probénécide sẽ làm tăng nồng
độ naproxène trong huyết tương và kéo dài thời gian bán hủy sinh học.
Các tương tác thuốc của Apranax cũng như của
các thuốc kháng viêm không stéroide khác cũng đã được mô tả : giảm tác dụng lợi
tiểu của furosémide, giảm thanh thải lithium ở thận, giảm tác dụng hạ huyết áp
của propranolol và các thuốc chẹn bêta khác, giảm bài tiết méthotrexate qua
thận.
Apranax có thể giao thoa với một vài định lượng
17-cétostéroide và 5-hydroxyindoacétique trong nước tiểu, nên ngưng tạm thời
Apranax 48 giờ trước khi làm xét nghiệm chức năng thận.
Apranax gây ức chế có hồi phục sự kết tập tiểu
cầu và kéo dài thời gian chảy máu. Tác dụng này phải được lưu ý đến khi xác định
thời gian chảy máu.
TÁC DỤNG NGOẠI Ý
- Các tác dụng phụ thông thường nhất : rối loạn
tiêu hóa, đau thượng vị, nhức đầu, buồn nôn, phù ngoại vi nhẹ, ù tai, chóng mặt.
- Những phải ứng phụ hiếm khi xảy ra nhưng đã
được ghi nhận : rụng tóc, phản ứng sốc phản vệ với naproxène và những chất có
cùng công thức với naproxène sodique, phù mạch, thiếu máu không tái tạo, thiếu
máu tan huyết, viêm màng não vô khuẩn, loạn chức năng nhận thức, viêm phổi tăng
bạch cầu ưa éosine, hoại tử biểu bì, ban đỏ đa dạng, viêm gan, xuất huyết dạ
dày-tá tràng và/hay thủng dạ dày-tá tràng, giảm bạch cầu hạt, giảm thính lực,
tiểu ra máu, mất khả năng tập trung, mất ngủ, vàng da, bệnh thận, loét dạ dày-tá
tràng, loét đường tiêu hóa, viêm da do nhạy cảm với ánh sáng, nổi ban, hội chứng
Stevens-Johson, giảm lượng tiểu cầu, viêm bao tử có loét, viêm mạch, rối loạn
thị lực, buồn nôn.
Mặc dù chưa có một nghiên cứu nào về sự giữ
muối Na được ghi nhận, nhưng với bệnh nhân có tiền sử bệnh tim có thể có nguy cơ
cao khi dùng Apranax.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
n Liều
thông thường :
Người lớn :
n Bệnh
viêm thấp khớp và thoái hóa : liều tấn công và trong các cơn cấp tính : 1100
mg/ngày. Liều duy trì 550-1100 mg/ngày tùy theo cường độ đau.
n Bệnh
thấp ngoài khớp, đau sau phẫu thuật và sau chấn thương : thông thường dùng
liều hàng ngày 1100 mg tỏ ra có hiệu quả. Liều lượng này phải được đánh giá lại
ở từng trường hợp, nhưng không vượt quá 1375 mg/ngày. Liều hàng ngày có thể dùng
một lần duy nhất hoặc chia làm 2 lần cách nhau 12 giờ.
n Đau
bụng kinh : liều khuyến cáo khởi đầu là 550 mg, sau đó là 275 mg mỗi 6-8 giờ
trong 3-4 ngày.
n Bệnh
goutte : liều khởi đầu là 825 mg, sau đó là 275 mg mỗi 8 giờ cho đến khi cơn
đau cấp giảm.
n Đề
phòng nhức nửa đầu : liều khuyến cáo là 550 mg, 2 lần/ngày. Nếu dùng thuốc
trong vòng 4-6 tuần mà bệnh không thuyên giảm, nên ngưng sử dụng thuốc.
n
Trường hợp đau sau khi sinh : liều duy nhất là 550 mg.
n
Trường hợp viêm cơ xương, mô mềm từ nhẹ đến trung bình, cấp hay mãn : liều
khuyến cáo khởi đầu cho người lớn là 275 mg, 2 lần/ngày (sáng và tối) hay 275 mg
buổi sáng và 550 mg buổi tối. Trong thời gian điều trị lâu dài, liều lượng tăng
hay giảm tùy thuộc vào đáp ứng lâm sàng của bệnh nhân.
Ghi chú :Không nên bẻ viên Apranax 550
mg.