Ranitidine được hấp thu nhanh chóng sau khi
uống, nồng độ tối đa trong huyết tương đạt được trong vòng 2 đến 3 giờ. Nồng độ
trong huyết tương không bị ảnh hưởng đáng kể khi có thức ăn ở dạ dày tại thời
điểm uống hay khi có sự hiện diện của các thuốc kháng acid.
Khả dụng sinh học của ranitidine dùng theo
đường uống vào khoảng 50%. Sự gắn kết protein với ranitidine ở người vào trong
khoảng 10 đến 19%. Thời gian bán hủy đào thải vào khoảng 3 giờ. Đường đào thải
chủ yếu là nước tiểu (tỷ lệ đào thải trong nước tiểu của ranitidine dạng tự do
và chuyển hóa trong 24 giờ sau khi uống một liều 100 mg là vào khoảng 33%).
Có một mối tương quan tuyến tính giữa liều
lượng (lên tới 150 mg) và tác dụng ức chế tiết acid dạ dày. Nồng độ ranitidine
trong huyết tương là 93,6 ng/ml (trong khoảng 48-125) có tác động ức chế sự tiết
acid dạ dày được kích thích vào khoảng 50%. IC50 của ranitidine ở vào
khoảng 100 ng/ml. Khi uống 150 mg ranitidine, nồng độ huyết tương vượt quá IC50
(100 ng/ml) kéo dài hơn 8 giờ và sau 12 giờ, nồng độ huyết tương vẫn còn đủ cao
để cho tác dụng ức chế sự tiết acid dạ dày. Ở bệnh nhân loét tá tràng, uống 150
mg ranitidine mỗi 12 giờ làm giảm đáng kể hoạt tính ion hydrogen trung bình
trong 24 giờ đến 69% và lượng acid dạ dày tiết ra vào ban đêm đến 90%. Nồng độ
hữu hiệu trong máu của ranitidine duy trì qua 24 giờ với một liều đơn duy nhất
300 mg hay 150 mg hai lần mỗi ngày.
Mặc khác, tính theo độ acid trong 24 giờ và
lượng acid tiết ra vào ban đêm, 150 mg ranitidine dùng hai lần mỗi ngày ưu việt
hơn 200 mg cimetidine ba lần mỗi ngày và 400 mg vào buổi tối (với p < 0,001 và
0,05 tương ứng).
Ở người tình nguyện sử dụng ranitidine, không
có báo cáo về tác dụng ngoại ý đáng kể trên đường tiêu hóa hay hệ thần kinh
trung ương; hơn nữa, nhịp tim, huyết áp, điện tâm đồ và điện não đồ không bị ảnh
hưởng nhiều khi dùng ranitidine.
Ở người tình nguyện khỏe mạnh và bệnh nhân,
ranitidine không ảnh hưởng nồng độ trong huyết tương của các nội tiết tố sau :
cortisol, testosterone, oestrogen, GH, FSH, LH, TSH, aldosterone hay gastrin -
mặc dù cũng như cimetidine, ranitidine làm giảm lượng vasopressin tiết ra. Điều
trị với liều 150 mg ranitidine hai lần mỗi ngày đến 6 tuần không làm ảnh hưởng
trục hạ đồi-tuyến yên-tinh hoàn, buồng trứng hay thượng thận.
Với liều tiêm tĩnh mạch 50 mg ranitidine không
có tác dụng trên nồng độ prolactin. Chỉ với liều tiêm tĩnh mạch 300 mg mới thấy
có sự tăng tiết prolactin, tương tự như tác dụng sinh ra do liều 200 mg
cimetidine tiêm tĩnh mạch.
So sánh khả dụng sinh học : Các nghiên
cứu khả dụng sinh học được thực hiện ở người tình nguyện nam giới bình thường.
Mức độ và vận tốc hấp thu sau một liều đơn uống 150 mg Zantac và 150 mg
Apo-Ranitidine được đo lường và so sánh. Tóm lược kết quả như sau :
| |
Zantac 150 mg |
Apo- Ranitidine 150 mg |
% sai biệt |
| ACU 0-12 (ng.giờ/ml) |
2041 |
2186 |
+7,1 |
| AUC 0-inf. (ng.giờ/ml) |
2107 |
2243 |
+6,5 |
| Cmax (ng/ml) |
466 |
478 |
+2,6 |
| Tmax (giờ) |
2,8 |
2,8 |
0,0 |
| t1/2 (giờ) |
2,6 |
2,5 |
-3,8 |
Kết luận : Sinh khả dụng của Apo-Ranitidine và
Zantac đã được đánh giá bằng cách so sánh vận tốc và mức độ hấp thu thuốc. Theo
những số liệu của nghiên cứu này, có thể kết luận rằng Apo-Ranitidine và Zantac
là tương đương về mặt sinh học và do đó, tương đương với nhau trên lâm sàng
Nồng độ tối đa trong huyết tương quan sát được
trong từ 1 đến 4 giờ.
CHỈ ĐỊNH
Apo-Ranitidine (ranitidine) được chỉ định trong
:
- Điều trị ngắn hạn loét tá tràng tiến triển.
- Điều trị duy trì ở bệnh nhân loét tá tràng
sau khi đã lành vết loét cấp.
- Điều trị tình trạng tăng tiết quá độ bệnh lý
(như hội chứng Zollinger-Ellison và bệnh tương bào hệ thống.
- Điều trị ngắn hạn loét dạ dày lành tính tiến
triển.
- Điều trị bệnh hồi lưu thực quản dạ dày.
CHỐNG CHỈ ĐỊNH
Sử dụng cho bệnh nhân suy thận :
Ranitidine được đào thải qua thận và khi suy thận nặng, nồng độ ranitidine trong
huyết tương được gia tăng và kéo dài. Do đó, khi có suy thận nặng, bác sĩ nên
giảm một nửa liều.
Sử dụng cho trẻ em : Kinh nghiệm sử dụng
ranitidine ở trẻ em rất giới hạn và vẫn chưa khảo sát đầy đủ trên lâm sàng. Tuy
nhiên, thuốc cũng đã được sử dụng tốt ở trẻ em trong độ tuổi 8-18 với liều tối
đa đến 150 mg hai lần mỗi ngày mà không gây tác dụng ngoại ý.
Tương tác với các thuốc khác : Mặc dù
ranitidine được báo cáo là gắn kết yếu với cytochrome P450 in vitro, với liều
khuyến cáo thuốc không ức chế tác động của oxygenase gắn kết cytochrome P450 ở
gan. Trong y văn đã có những báo cáo trái ngược nhau về các tương tác có thể xảy
ra với ranitidine và một vài loại thuốc khác, ý nghĩa lâm sàng của các báo cáo
này không nhiều. Trong số những thuốc được nghiên cứu có warfarin, diazepam,
metoprolol và nifedipine.
LÚC CÓ THAI và LÚC NUÔI CON
BÚ
Nhức đầu, nổi ban, chóng mặt, táo bón, tiêu
chảy và buồn nôn đã được báo cáo xuất hiện ở một số rất ít bệnh nhân được điều
trị với thuốc nhưng cũng xảy ra ở những người dùng giả dược. Một vài bệnh nhân
sau khi bị tác dụng phụ lại dùng thử trở lại ranitidine đã bị tái phát nổi ban
da, nhức đầu hay chóng mặt.
Đã có báo cáo về một vài trường hợp gia tăng
transaminase huyết thanh và g-glutamine
transpeptidase nhưng đã trở về tình trạng bình thường trong cả hai trường hợp
tiếp tục trị liệu hay ngưng thưốc. Trong nghiên cứu có đối chứng giả dược bao
gồm gần 2500 bệnh nhân, không có khác biệt giữa tỷ lệ gia tăng SGOT và SGPT ở
nhóm bệnh nhân được điều trị với ranitidine và nhóm bệnh nhân dùng giả dược. Các
trường hợp viêm gan hiếm khi xảy ra cũng đã được báo cáo, nhưng căn bệnh này
cũng thoáng qua và không xác định được mối liên hệ nhân quả với sự sử dụng
thuốc.
Phản ứng dạng phản vệ (phản vệ, nổi mề đay, phù
mạch thần kinh, co thắt phế quản) hiếm khi xuất hiện khi dùng ranitidine theo
đường uống và đường tiêm. Đôi khi các phản ứng này cũng xuất hiện sau một liều
đơn duy nhất.
Giảm số lượng bạch cầu và tiểu cầu đã xuất hiện
trên một vài bệnh nhân. Các xét nghiệm huyết học và trên thận không cho thấy bất
thường nào liên quan với thuốc.
Không có ảnh hưởng lâm sàng đáng kể nào về chức
năng nội tiết hay tuyến sinh dục được báo cáo.
LIỀU LƯỢNG và CÁCH DÙNG
Người lớn :
Loét tá tràng, loét dạ dày lành tính :
một liều 300 mg hay hai viên 150 mg mỗi ngày một lần vào lúc đi ngủ.
Trong hầu hết các trường hợp, vết loét lành
trong vòng 4 tuần. Trên một số ít bệnh nhân có vết loét chưa lành hoàn toàn có
thể đáp ứng với một đợt điều trị kế tiếp.
Điều trị duy trì : Bệnh nhân đáp ứng với
điều trị ngắn hạn này, đặc biệt là những người có tiền sử loét tái phát, có thể
kéo dài trị liệu duy trì với liều thấp hơn là 150 mg lúc đi ngủ.
Tình trạng tăng tiết bệnh lý (như hội chứng
Zollinger-Ellison) : 150 mg hai lần mỗi ngày. Ở một vài bệnh nhân có thể cần
phải dùng liều 150 mg nhiều lần hơn trong ngày. Nên điều chỉnh liều lượng theo
tình trạng của từng bệnh nhân và tiếp tục trị liệu khi có chỉ định lâm sàng.
Liều 6 g/ngày đã được sử dụng ở bệnh nhân nặng.
Bệnh hồi lưu thực quản-dạ dày : 150 mg
hai lần mỗi ngày vào buổi sáng và trước khi nghỉ ngơi hoặc theo sự hướng dẫn của
bác sĩ.
Trẻ em :
Kinh nghiệm với ranitidine ở trẻ em còm giới
hạn và vẫn chưa được khảo sát đầy đủ trên các nghiên cứu lâm sàng (xem Thận
trọng lúc dùng).
QUÁ LIỀU